Cải cách giáo dục, cần dạy 2 kĩ năng

(Ở đây, tôi tạm không bàn về giáo dục mầm non hay tiểu học, mà chỉ từ cấp 2 trở lên, cũng xin không bàn về những vấn đề chính sách như kiểu có nên thi tốt nghiệp hay không, mà chỉ xin có ý kiến về nội dung chương trình học)

Người Việt Nam vẫn luôn tự hào về truyển thống hiếu học, về các giải thưởng trong các kì thi quốc tế. Thế nhưng tại sao chúng ta học rất giỏi nhưng không áp dụng được cái giỏi đó vào phát triển kinh tế? Tại sao các nhà tuyển dụng vẫn than phiền về chất lượng nhân sự ở Việt Nam? Tại sao học sinh Việt Nam vẫn đổ ra nước ngoài du học?

 

Vì chúng ta học sai.

 

So với học sinh các nước phát triển, học sinh Việt Nam đang học quá nhiều và học không đúng thứ cần học. Singapore dạy 6 môn A-level, trong đó 1 môn là kĩ năng làm việc nhóm, 1 môn là kĩ năng viết nghị luận tiếng Anh, và 4 môn tự chọn. Anh cũng thường cho học sinh chọn 4-5 môn A-level. Các trường theo hệ International Baccalaureate (IB) cho học sinh chọn 6 môn. Trong khi đó, học sinh Việt Nam học 12-13 môn, môn nào cũng là bắt buộc.

 

Chúng ta đang ném một loạt kiến thức, đủ các môn: Toán Lý Hóa Sinh Sử Địa thành một đống, rồi đổ lên đầu học sinh, và bắt học sinh tiêu hóa hết. Dĩ nhiên là đống kiến thức đó thường là quá nhiều, không tiêu hóa hết được. Thế nên mới sinh ra nạn quay bài, dùng phao, thi hộ.

Cách giảng dạy hiện nay, đó là trực tiếp cho học sinh kiến thức từ sách giáo khoa, cũng giống như cho một người đói ăn cá. Bạn ném một số chủng loại cá: cá trắm, cá chép, cá rô, cá mè vào mặt học sinh, bắt ăn. Có những người ăn được ít, có những người ăn được nhiều. Có người thấy ít cá quá, đói meo. Có người thấy nhiều cá quá, để cho cá ươn thiu lên ở đấy. Bây giờ chúng ta đang cho học sinh cá, và suốt ngày tranh luận xem nên cho loại cá gì.

Hơn nữa, khi hết cá, thì người đói lại hoàn đói. Khi học xong, thi xong, học sinh lại dần quên hết lượng kiến thức đấy đi.

Cái mà học sinh Việt Nam cần học, cái mà giáo dục cần dạy đó là kĩ năng.

 

Ở đây, tôi xin mạn phép đề nghị chúng ta bỏ bớt nội dung kiến thức và thay vào đó là dạy kĩ năng tham khảo và dẫn chứng thông tin (literature review), và phương pháp khoa học (the scientific method). Để hiểu được tầm quan trọng của 2 kĩ năng này, xin phép được tóm tắt qua xem chúng là gì (những ai đã biết rồi thì có thể bỏ qua 4 đoạn sau đây).

 

Tham khảo thông tin là việc tìm kiếm thông tin liên quan đến vấn đề mình đang quan tâm, tranh luận; chọn lọc xem thông tin nào đáng tin cậy; sau đó tóm tắt và trình bày những thông tin đó một cách hữu ích, và trích dẫn nguồn một cách đúng cách. Ví dụ, khi nghe tin “Bưởi Năm roi gây ung thư”. Nếu nguồn tin bạn nghe được đấy là một bài post của một ai đó trên một forum nào đó trên, đại loại theo kiểu “Các mợ ạ, nhà em có 7 người, xong có 4 người thích ăn bưởi Năm Roi, 3 người còn lại thích ăn bưởi Diễn. Xong cả 4 người thích ăn bưởi Năm Roi đều bị ưng thư. Vậy suy ra bưởi Năm Roi gây ung thư”. Lập tức, chuông báo động của bạn phải reo “Vịt! Vịt!”, và tốt hơn hết là bạn nên lờ đi và quay lại Facebook.

Còn nều có một bài báo trên báo giấy Thanh Niên, dẫn chứng một nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Viện Vệ sinh An toàn thực phẩm, thì có lẽ bạn nên quan tâm hơn một chút. Đến đây, một chút kiến thức về toán, mà cụ thể hơn là toán xác suất sẽ rất có ích. Nếu cái nghiên cứu này chỉ có n = 20 (tức là số đối tượng được nghiên cứu chỉ có 20 người, mà chắc toàn là bạn bè của ông Tiến sĩ), rồi thì giá trị p cao vút, kiểu 0.2 gì đấy, thì bạn cũng có thể yên tâm mà bỏ qua cái “nghiên cứu” đấy. Còn nếu đấy là một nghiên cứu kéo dài 20 năm, trên 10 000 người ở đủ các độ tuổi từ già đến trẻ, từ lớn đến bé, đủ các tầng lớp kinh tế và vị trí địa lý khác nhau, p = 0.001, thì có lẽ bạn nên chuyển sang ăn cam.

 

Thế còn phương pháp khoa học là gì? Nếu đơn giản hóa vấn đề, phương pháp khoa học gồm 4 bước:

Bước 1: Khi bạn thấy một hiện tượng gì đó, bạn sẽ đặt ra một giả thuyết để giải thích nó.

Bước 2: Sau đó, dùng giả thuyết của mình, bạn sẽ tìm cách dự đoán kết quả của hiện tượng đó ở những điều kiện khác.

Bước 3: Bạn thực hiện thí nghiệm hoạt quan sát hiện tượng đó một lần nữa, và so sánh kết quả quan sát được với kết quả dự đoán.

Bước 4: Nếu kết quả quan sát khớp với dự đoán, bạn có thể tạm chấp nhận giả thuyết của mình là chưa sai (Và viết nghiên cứu! Và công bố kết quả trên một tạp chí khoa học! Hoặc đi công bố sự thông minh của mình cho tất cả mọi người bạn biết!). Còn nếu sự thật không như là giả thuyết, bạn quay lại bước 1 với một giả thuyết khác.

Khi ông Newton quan sát táo rơi, ông đặt ra một giả thuyết về lực vạn vật hấp dẫn (được biểu diễn với một công thức toán học F = Gm1m2/r^2). Ổng thử dùng lý thuyết này để đoán trước chuyển động của các hành tinh quanh mặt trời: thí dụ, vào lúc này, theo lý thuyết của tôi, Hỏa tinh sẽ ở đâu, tốc độ ra sao. Sau khi viết ra nhiều dự đoán như thế với nhiều giá trị m1, m2, r khác nhau (các hành tinh khác nhau), ông quan sát thử xem dự đoán của mình có đúng không. Hóa ra là đoán trúng! Newton mừng rỡ, đem viết những dự đoán và quan sát của mình thành một quyển sách và đem xuất bản. Và cái giả thuyết của ông được người ta kiểm chứng nhiều lần, biến thành “định luật” vạn vật hấp dẫn. (Ấy là cho đến khi người ta thấy định luật đó không đúng với những vật rất khổng lồ và ở tốc độ rất cao, và Einstein tìm ra một giả thuyết tốt hơn để giải thích những hiện tượng này).

 

Hai khái niệm rất đơn giản. Nhưng để thuần thục áp dụng chúng, chúng ta phải học.

 

Vậy, tại sao trong nhiều thứ kĩ năng trên đời, chúng ta lại dạy những kĩ năng này?

Cá nhân tôi nghĩ trọng tâm của giáo dục trong trường học vẫn phải thiên về hàn lâm. Các kĩ năng sống như  là vô cùng quan trọng, nhưng cuộc sống thay đổi vô cùng nhanh chóng và phức tạp hơn những gì trong khuôn khổ nhà trường có thể dạy hết được. Cách tốt nhất để học kĩ năng sống đó là va chạm và trải nghiệm chứ không phải học ở trường. Chính kĩ năng học các kĩ năng khác mà không có ai dạy bảo, từ trải nghiệm của bản thân, cũng là một kĩ năng quan trọng.

Vậy nên ở đây chúng ta tập trung vào những kĩ năng về mặt kiến thức.

 

Quay lại phép so sánh về cá, thì dạy kĩ năng tham khảo cũng giống như cho một người đói một chiếc cần câu và dạy người ta câu cá.

Dĩ nhiên lúc đầu, khi người đó còn đang học câu cá, bạn vẫn phải cho vài con cá để ăn hàng ngày. Nhưng khi đã thành thạo rồi, người đó muốn câu loại cá gì cũng được: thích chép thì câu chép, thích rô thì câu rô,… Thậm, chí những người thực sự thích, muốn ra biển câu cá thu hay lên núi câu cá hồi thì cũng dễ dàng học câu những loại cá đó hơn. Và quan trọng hơn nữa, người đó sẽ không bao giờ đói nữa.

Có nghĩa là học sinh chỉ cần học một số kiến thức nền tảng, sau đó nên tập trung vào tự tìm tòi, nghiên cứu và trình bày những gì mình tìm hiểu được một các thuyết phục và có khoa học.

Kĩ năng tham khảo và phương pháp khoa học có sự liên quan mật thiết đến nhau. Anh phải hiểu được người ta nghiên cứu khoa học như thế nào thì mới có thể hiểu được những báo cáo khoa học mà mình đang tham khảo. Phải từng thử trải qua từng bước của phương pháp khoa học kia thì mới hiểu được các nhà khoa học có bỏ qua điều gì không (thường là có. Đây là chuyện thường ngày ở huyện). Ngược lại, anh không thế làm khoa học mà không tham khảo người khác.

 

Một người biết 2 kĩ năng này thật sự có thể học, học nữa, học mãi. Học những gì mình thực sự thích, học ra ngoài sách giáo khoa, ra ngoài kiến thức của giáo viên.

Nếu cứ tiếp tục dạy theo cách đổ kiến thức từ trên xuống, không khuyến khích học sinh tự tham khảo và nghiên cứu, chúng ta sẽ lại tạo ra những thế hệ con người thụ động, không có động lực, thậm chí là chán ghét kiến thức do bị bội thực.

Còn khi kiến thức là do chính mình thu thập lại, xây dựng từ nhiều nguồn thông tin đa dạng, thậm chí trái chiều thành một thế giới quan của riêng mình thì chúng ta mới có thể có một sự thấu hiểu sâu sắc. Phải như thế ta mới xây dựng được đam mê trong việc học tập, và sự khát khao tìm tòi cái mới, tìm tòi câu trả lời cho những điều chưa hiểu.

 

Không chỉ có học, người có 2 kĩ năng đó còn biết phân biệt được đâu là thông tin đáng tin, đâu là thông tin vô bổ. Người đó sẽ không bao giờ dễ dàng tin vào những thứ như “Bưởi có chất gây ung thư” hay “Trong bim bim, sữa có đỉa”. Khi những con người đó tranh luận với nhau, họ sẽ biết cách lấy dẫn chứng ở những nguồn đáng tin cậy chứ không chỉ dựa vào những ý niệm cá nhân chung chung, những tuyên bố không có căn cứ. Hơn nữa, khi đã trải qua quá trình tìm hiểu, sàng lọc qua những nguồn thông tin đói nghịch và trái chiều, con người ta sẽ hiểu được mọi vấn đề đều có nhều góc nhìn khác nhau, và sẽ dễ dung hòa với những người có ý kiến khác mình hơn. Nhìn chung, xã hội sẽ trở nên hiểu biết hơn, thông minh hơn, thấu hiểu hơn, tốt đẹp hơn.

Thứ hai, vì nền nghiên cứu và khoa học của Việt Nam quá kém. Chúng ta có nhiều Giáo sư, Tiến sĩ thuộc loại nhất Đông Nam Á, nhưng cả số lượng nghiên cứu được xuất bản lẫn chất lượng nghiên cứu (đo bằng số lần trích dẫn) đều thuộc loại tệ nhất trong khu vực và trên thế giới (thua cả Campuchia). Trong các bảng đánh giá về nghiên cứu khoa học, các trường đại học của Việt Nam cũng đều thường xuyên nằm trong tốp đội sổ. Chả trách mà các sản phẩm của Việt Nam không ngóc đầu lên được. Nếu không có nghiên cứu, không có R&D, làm sao chúng ta có thể sản xuất ra những mặt hàng tiêu dùng cho ra hồn? Kinh tế Việt Nam sẽ vẫn mãi chỉ luẩn quẩn với nông nghiệp, khai thác nguyên liệu thô và công nghiệp thủ công. Đương nhiên, một phần lớn của vấn đề ở đây là do cơ chế yếu kém, không khuyến khích nghiên cứu. Tuy nhiên, tôi trộm nghĩ việc không có một văn hóa nghiên cứu từ trường học cũng là một vấn đề lớn.

Tôi từng đi du học cấp III ở Singapore và bây giờ đang học đại học ở Mỹ. Ở cả 2 nơi, kĩ năng nghiên cứu và phương pháp khoa học được giảng dạy từ cấp II, và được rèn giũa trong suốt những năm cấp III và đại học. Hệ quả là rất nhiều học sinh tham gia vào nghiên cứu.

 

Kể cả những học sinh không nghiên cứu cũng có kĩ năng tìm hiểu về bất kì vấn đề nào và giải thích nó, hoặc sử dụng những điều mình vừa tìm hiểu được để một tự tạo ra một ý kiến của bản thân và bảo vệ nó.

 

Trong thời đại công nghệ, khi cần thông tin gì, bạn chỉ cần google, việc nhớ một mớ kiến thức đã trở nên kém quan trọng hơn nhiều so với khả năng tìm hiểu và xử lý thông tin.

 

Dĩ nhiên việc cải cách là không đơn giản. Không có một liều thuốc chữa bách bệnh nào cho một hệ thống có nhiều bất cập. Nhất là đối với những môn học kĩ năng, cần có sự đào tạo lại cho cả đội ngũ giáo viên, xây dựng một chương trình hợp lý và đầu tư cơ sở vật chất nhất định (khó có thể học kĩ phương pháp khoa học nếu không có điều kiện làm thí nghiệm). Không cần nói cũng phải hiểu, kèm với đó phải là việc giảm chương trình kiến thức “chay”. Nếu đưa vào một cách vội vã, không có chuẩn bị thấu đáo, những môn học kĩ năng sẽ chỉ trở thành thêm một gánh nặng nữa mà học sinh phải chịu.

 

Đọc thêm:

Tại sao nghiên cứu Viêt Nam yếu kém

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s